Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

Tản mạn John Steinbeck & Robert Burns



Tản mạn John Steinbeck & Robert Burns 


Hôm qua đọc bài Của Chuột và Người của cô PA trên báo Anh Vũ, tự dưng tôi nhớ lại một ngày đã xa xưa, thuở mới làm quen với văn chương nước ngoài, rồi lần mò đi vào con đường dịch thuật, thoáng chốc đã mấy mươi năm. Tôi nhớ rõ như thế bởi tác phẩm dịch thuật đầu tiên của tôi chính là Of Mice and Men của John Steinbeck. [Riêng Robert Burns - người có khổ thơ mà John Steinbeck trích ra bốn chữ dùng làm tựa đề cuốn sách nói trên – thì mãi về sau này tôi mới đọc đến, nhưng tôi lại dịch khá nhiều bài thơ của nhà thơ Tô Cách Lan này.] Và tôi để nguyên những bản dịch có từ những năm đó - không sửa chữa thêm bớt gì cả, dù biết trong những bản dịch đó vẫn có nhiều điều cần hiệu chỉnh: tôi muốn giữ nguyên cái hương vị mộc mạc của thuở ban đầu. Hy vọng hương vị ấy có thể san sẻ cùng quý vị một điều gì đó, một niềm vui nho nhỏ nào đó, trong những ngày tháng năm nắng nóng, đầy tư lương phiền muộn này. 

1. John Steinbeck là nhà văn Mỹ đoạt giải Nobel Văn Chương 1962, vàOf Mice and Men (1937) là một tác phẩm nổi tiếng của ông. Ở Việt Nam có hai bản dịch phổ biến, một của Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu Tập (1967), một của Đào Văn Bình (2010). Từ lâu lắm rồi, tôi có dịp đọc tác phẩm này, và ngay đoạn mở đầu, tôi nhớ mình đã choáng ngợp và thích thú như thế nào về một bức tranh đầy âm thanh, đầy màu sắc, thanh bình và lặng lẽ được John Steibeck vẽ ra với một cách dùng từ khá lạ. Đoạn đó như sau:

A few miles south of Soledad, the Salinas River drops in close to the hillside bank and runs deep and green. The water is warm too, for it has slipped twinkling over the yellow sands in the sunlight before reaching the narrow pool. On one side of the river the golden foothill slopes curve up to the strong and rocky Gabilan Mountains, but on the valley side the water is lined with trees- willows fresh and green with every spring, carrying in their lower leaf junctures the debris of the winter's flooding; and sycamores with mottled, white, recumbent limbs and branches that arch over the pool. On the sandy bank under the trees the leaves lie deep and so crisp that a lizard makes a great skittering if he runs among them. Rabbits come out of the brush to sit on the sand in the evening, and the damp flats are covered with the night tracks of 'coons, and with the spread pads of dogs from the ranches, and with the split-wedge tracks of deer that come to drink in the dark.

Nhiều người đã thắc mắc vì sao tác giả lại dùng chữ drops, bởi đây là một động từ dùng để diễn tả một sự rơi, một sự đổ xuống dưới do trọng lực. Nhưng làm sao một dòng sông lại có thể “đổ xuống” thung lũng, trong khi đáy sông cũng là đáy thung lũng kia chứ? Phải chăng từ moves là từ phù hợp nhất ở đây? Nhiều người khác thì tự hỏi, vì sao đã hillside rồi còn thêm chữ bank - hillside bank? Ngẫm kỹ mới hiểu là bờ sông phía những sườn đồi. Rồi những từ như twinkling liệu có cần dùng không? Bởi sự lấp lánh của một vật không tùy thuộc, hay không tạo ra, sựấm, lạnh của nó. Rồi the golden foothill slopes là gì? Phải chăng tác giả muốn nói là the golden slopes of the foothills? Tại sao phải dùng thêm the spread pads, the split – wedge tracks, trong khi chỉ cần dùng the tracks là đủ? … Nhiều người cho rằng, khi dùng những từ như vậy, có thể John Steinbeck muốn đề cao nhạc điệu của lời văn. Nhưng khi hiểu thì phải hiểu theo nghĩa khác! Từ đây mới thấy rằng văn John Steinbeck không dễ dịch. Có phải vậy không? Chúng ta hãy thử đọc bản dịch đoạn nói trên của Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu Tập: 

Phía Nam Soledad chừng mấy dặm, dòng sông Salinas đổ xuống theo sát sườn đồi, nước xanh thẳm và ấm nhờ phơi mình trên bãi cát vàng lấp lánh ánh nắng trước khi êm ả chảy vào một cái hồ nhỏ hẹp. Một bên bờ là những sườn đồi vàng ánh nhô lên, soải mình đến tận những vách núi đá Gabilan, bờ sông bên kia cây cỏ um tùm, hễ vào tiết xuân rặng liễu lại xanh rờn và những chiếc lá phía dưới gốc còn giữ dấu vết các trận lụt mùa đông qua, những hàng sung, lá và cành nhẵn thín vươn ra và kết thành một vòm trên mặt nước yên lặng. Trên bãi cát ven sông lá rụng thành một thảm dày và khô làm mỗi khi có con thằn lằn chạy qua, lại gây ra tiếng sột soạt ngân dài. Chiều đến, lũ thỏ từ các bụi rậm ra ngồi chơi trên cát và những chỗ đất thấp mỗi buổi sáng thường hãy còn dấu chân hay vết móng các đàn chuột ăn cá, bầy chó trại hay bầy hươu đã tới uống nước trong đêm. 



Rồi chúng ta lại đọc bản dịch của Đào Văn Bình (2010): 

Một vài dặm về phía nam Soledad, dòng sông Salinas tạt vào phía sườn đồi, nước sâu và xanh biếc. Dòng sông ấm áp vì đã lấp lánh trườn mình trên giải cát vàng chói chang ánh mặt trời trước khi đổ vào hồ nước hẹp. Trên một bờ của dòng sông, những ngọn đồi vàng uốn lượn theo rặng núi đá Galiban hùng vĩ, nhưng còn về phía bờ thung lũng, dòng sông chạy sóng đôi với những rặng liễu xanh tươi mà cứ mỗi độ xuân về trên những cuống lá ở dưới thấp vẫn còn mang theo rác rưởi của trận lụt mùa đông; và những cây sung dâu thân trắng nổi vân nổi sọc nằm ngả ngớn, cành lá la đà trên mặt hồ. Trên bờ cát dưới những rặng cây, lá khô ròn nằm xếp lớp tới nỗi những con rắn mối chạy sột soạt trong đó. Vào buổi chiều những con thỏ chui ra khỏi bụi rậm ngồi trên cát; những khu đất bằng phẳng, ẩm ướt phủ đầy dấu chân của loài chồn đi ăn đêm, những vết chân của những con chó đến từ các nông trại, và dấu móng chẻ của những con nai ra uống nước trong đêm tối.



Sycamore tree: cây sung, xóm tôi ngày xưa có nhiều cây sung, và da nó cũng lốm đốm trắng như vậy. Nhưng sung mọc bên hồ thì tôi chưa thấy bao giờ!



Willow tree: cây liễu, ở quê tôi, quả thực có những hàng liễu rũ bên hồ như vậy. Bây giờ người ta chặt bỏ hết rồi!



Coon: gấu trúc Mỹ / ngày xưa không biết coon là con gì tôi dịch là con hải ly (!).




Lizard: con thằn lằn này, dưới quê tôi đích thị là con rắn mối. Rất hiền lành, và đúng là anh ta thường chạy vụt qua trên những đám lá khô, đôi khi làm người ta giật mình. 

Phiếm bàn: Hai bản dịch này thể hiện những khác biệt rõ rệt, vài thí dụ: Coons: đàn chuột ăn cá / loài chồn đi ăn đêm /mà đúng ra phải là con gấu trúc Mỹ; Lizard: con thằn lằn / con rắn mối… Đối với chữ drops: bản dịch thứ nhất dịch là đổ xuống, bản dịch thứ hai dịch là tạt vào. Theo tôi nghĩ nên dịch là trôi, chảy,... hoặc có thể là đổ về, hay đổ vào. Bản dịch thứ nhất không dịch chữ deep trong runs deep and green. Bản dịch thứ hai có dịch chữ deep với nghĩa là sâu. Tuy nhiên trong văn cảnh, tôi nghĩ chữ deep có thể dịch là huyền bí. Và động từ runs ở đây có nghĩa là trở nên. Tương tự như vậy là câu the strong and rocky Galiban Mountains. Bản dịch thứ nhất không dịch chữ strong, và hiểu chữ rocky theo nghĩa đá. Bản dịch thứ hai dịch chữ strong thành hùng vĩ, và cũng hiểu chữ rocky theo nghĩa đá. Theo tôi, chữ rocky còn có một nghĩa là hiểm trở. Ở đây xin giới thiệu bản chuyển ngữ ngày xưa của tôi về đoạn văn nói trên: 


Xa xa mấy dặm về phía nam Soledad, dòng Salinas chảy xuôi theo mạn sườn đồi, trở nên trong xanh, huyền bí. Và nước cũng trở nên ấm nữa, bởi trước khi đổ vào một lòng hồ nhỏ hẹp, dòng sông đã lấp lánh đi qua những bãi cát vàng phơi dưới ánh mặt trời. Bờ sông phía chân đồi nhấp nhô những dốc đá óng ả như sắc vàng ròng, uốn lượn quanh co tới tận rặng Galiban hùng vĩ và hiểm trở. Bờ sông phía thung lũng chen chúc những hàng cây - những hàng liễu tươi xanh mỗi độ xuân về, mà những cuống lá dưới thấp của chúng vẫn còn vết tích của trận lụt mùa đông. Và những hàng sung với những nhánh, những cành, vỏ lốm đốm trắng, vươn ra trên mặt hồ lặng lẽ. Ngoài bãi cát, dưới những tàn cây, lá rụng rơi đầy và khô giòn đến mức có thể nghe rõ cả tiếng sột soạt khi có một con rắn mối chạy vụt qua trên đó. Vào buổi chiều tà,từ những bụi rậm, mấy chú thỏ ra ngồi trên cát, và vùng đất ẩm ướt bằng phẳng in đầy dấu chân của những con hải ly, những con chó đến từ nông trại, và những con hươu nai, ra uống nước trong đêm. 



2. Robert Burns (1759 – 1796) là một nhà thơ lớn người Tô Cách Lan, bài To a Mouse (1875) của ông có một khổ thơ mà sau này nhà văn John Steinbeck rút ra bốn chữ dùng làm tựa đề cho tác phẩm Of Mice and Men của ông. Khổ thơ đó như sau:


But little Mouse, you are not alone,
In proving foresight may be vain:
The best laid schemes of mice and menGo often awry,
And leave us nothing but grief and pain,
For promised joy!


Bản dịch của Thái Bá Tân:

Nhưng chuột ơi, đâu chỉ ngươi cô đơn.
Trong nỗi buồn, nào ta có gì hơn -
Cũng như ngươi, ta chờ mong hạnh phúc.
Hòa bình, ấm no,
Nhưng số phận chỉ cho ta cái nhục,
Cái buồn, cái lo. 


Phiếm bàn: Ngoài câu đầu, phần còn lại của bản dịch đã được dịch giả dịch thoát đến mức ... mờ cả tinh thần của nguyên tác! Thôi thì đành mạo muội gởi đến các bạn bản tạm dịch thô sơ sau đây vậy: 

Nhưng chuột ơi, đâu chỉ một mình mi
biết chờ mong có thể là hão huyền
những dự tính đẹp đẽ nhất của chuột và người
thường luôn thất bại
và chúng ta không còn gì ngoài sầu muộn đớn đau
cho một niềm vui từng hứa hẹn …

Nhìn lại bài thơ chuyển ngữ thô nói trên, tôi thấy có được một niềm vui nho nhỏ là ngay từ những năm xa xưa đó, tôi đã giữ được 4 chữ: Của Chuột và Người trong câu dịch của mình. May lắm thay! Chúc quý vị những ngày tháng năm vui vẻ.

Nguyễn Đại Hoàng
5/2013

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Man mác với Sara Teasdale

Sara Teasdale ( 1884 – 1933).Sara Teasdale sinh ra ở St Louis, tiểu bang Missouri, nước Mỹ.Tập thơ Love Songs của nữ thi sĩ được giải Pulitzer năm 1918. Sara Teasdale thích sống ẩn dật, ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài.Sara Teasdale thích viết về tình yêu, nỗi mất mát trong tình yêu và nỗi cô đơn.

Xin giới thiệu sau đây một số bài thơ nổi tiếng của bà.


THE FLIGHT 

We are two eagles
          Flying together,
Under the heavens,
          Over the mountains,
Stretched on the wind.
          Sunlight heartens us,
Blind snow baffles us,
          Clouds wheel after us,
Raveled and thinned.

We are like eagles;
But when Death harries us,
Human and humbled
When one of us goes,
Let the other follow –
Let the flight be ended,
Let the fire blacken,
Let the book close.


BAY 

Ta như đôi chim ưng
cùng nhau bay
dưới trời này
trên núi non này
và gió ngàn khơi

Hân hoan khi nắng đẹp
Gian nan ngày tuyết rơi
làn mây nhỏ xa xôi
bay sau ta bối rối

Ta như đôi chim ưng
Thần Chết đến
kiếp người nhỏ mọn
khi một cánh chim biệt ly
hãy để chim kia cùng ra đi !
Và, chuyến bay đời , thôi hãy ngừng !
ngọn lửa đời , thôi hãy tắt !
cuốn sách đời , thôi hãy khép !


SONG OF AMALFI 

I asked the heaven of stars
          What should I give my love –
It answered me with silence,
          Silence above.

I asked the darkend sea,
          Down where the fishermen go –
It answered me with silence,
          Silence below.

Oh, I could give him weeping
          Or could him song –
But how could I give him silence
          My whole life long?



TẶNG PHẨM

Tôi hỏi trời sao
Những gì có thể tặng chàng
Nhưng trời sao im lặng
Trên cao

Tôi hỏi biển âm u
những ngư ông
lưới tung ngoài bãi vắng
Nhưng biển xanh im lặng
Thâm sâu

Ôi, tôi có thể tặng chàng
giọt lệ hay bài ca
Nhưng làm sao tôi có thể tặng chàng
sự lặng câm
suốt cả một đời tôi ?


LET IT BE FORGOTTEN

Let it be forgotten, as a flower is forgotten,
          Forgotten as a fire that once was singing gold,
Let it be forgotten for ever and ever,
          Time is a kind friend, he will make us old.
If someone asks, say it was forgotten
          Long and long ago,
As a flower, as a fire, as a hushed footfall
          In a long–forgotten snow.


LÃNG QUÊN

Thôi hãy lãng quên
Như bông hoa lãng quên
Như ngọn lửa một lần sáng chói
Hãy lãng quên muôn đời và mãi mãi
Thời gian – người bạn vàng – sẽ làm mờ phai tuổi trẻ
Nếu ai đó hỏi , hãy nói đã lãng quên bạn nhé

Lâu rồi
Như một cánh hoa
Như một ngọn lửa
Như một dấu chân trên tuyết
Lâu rồi



NGUYỄN ĐẠI HOÀNG chuyển ngữ

4/2008

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

The Open Window - Cánh cửa sổ mở


Tác giả  : Saki
Chuyển ngữ : Nguyễn Đại Hoàng

Dẫn :  The Open Window là truyện ngắn làm nên tên tuổi của nhà văn Hector Hugh Munro ( 1870-1916 ) – với bút hiệu Saki. Đây là kiểu “ truyện trong truyện ”, trong đó cô cháu gái Vera của bà chủ nhà với khả năng dẫn dắt câu chuyện của mình đã dựng nên những tình tiết làm tất cả mọi người đều phải sững sờ, người đọc cũng không tránh khỏi sự bất ngờ thú vị. Chúng tôi xin giới thiệu sau đây bản chuyển ngữ của Nguyễn Đại Hoàng,  mà dịch giả hy vọng có thể chuyển tải được  phần nào sự tinh tế và sống động của nguyên tác.

Thưa ông Nuttel, cô em xuống liền đó, còn bây giờ để em tiếp ông nhé. Cô gái trẻ khoảng mười lăm tuổi tự tin nói.

The Open Window - Saki

Tất nhiên là Framton Nuttel thấy cũng cần đẩy đưa dăm ba câu chuyện để cô cháu không phật ý mà bà chủ nhà cũng không thấy ái ngại vì để khách phải chờ lâu.

Và  thực tình Framton cũng không rõ những cuộc thăm viếng những người xa lạ như thế này sẽ có lợi gì cho việc điều trị căn bệnh thần kinh mà người ta cho rằng anh đang mắc phải.

Khi Framton sắp về vùng quê này  an dưỡng , chị của anh đã nói : Chị biết mà Framton. Ở đó cô độc lắm, có ai trò chuyện đâu, không chừng bệnh tình còn tệ hơn vì buồn não ấy chứ ! Chị có mấy lá thư gởi gắm cậu cho mấy người  quen. Thực ra trong số họ cũng có người tử tế.

Và Framton tự hỏi liệu bà Sappleton, người mà anh sắp đưa thư giới thiệu, có thuộc nhóm những người tử tế mà bà chị của anh nói tới hay không.

Thưa ông, ở đây ông có quen nhiều người không ? Cô cháu hỏi như vậy khi thấy sự thăm dò quan sát trong im lặng giữa hai bên là đã đủ.

Ồ, hầu như chẳng có ai em à,  Framton nói . Chừng bốn năm trước, bà chị tôi từng sống ở đây- tại nhà ông mục sư - và chị ấy có gởi thư giới thiệu tôi với những người mà chị ấy quen biết. Anh trả lời, giọng điệu có pha chút phiền muộn.

Vậy là hầu như ông cũng không biết gì về cô em phải không ạ ? Cô gái trẻ đầy tự tin hỏi.

À thì cũng chỉ biết sơ sơ tên tuổi và địa chỉ thôi , người khách đáp.

Anh thắc mắc không biết bà Sappleton sống cùng chồng hay là góa bụa. Trong căn phòng này vẫn có một điều gì đấy, dù không thực sự rõ ràng, cho phép người ta liên tưởng tới sự hiện diện của đàn ông.

Ông biết không, ba năm trước, một tấn thảm kịch đã xảy ra với cô em đó, lúc đó không chừng chị của ông vẫn còn ở  vùng này. Cô gái trẻ nói.

Thảm kịch à ? Framton hỏi lại, bởi thật khó tin một tấn thảm kịch nào đó lại xảy ra ở vùng quê yên tĩnh  này.

Vậy chứ ông không ngạc nhiên là tại sao cánh cửa sổ đằng kia vẫn mở suốt trong buổi chiều tháng Mười này à ? Cô gái trẻ vừa nói, vừa chỉ tay về cánh cửa sổ kiểu Pháp mở ra một cánh đồng cỏ.

Thì lúc này trời vẫn còn ấm mà , với lại cánh cửa sổ thì có liên quan đến thảm kịch cơ chứ ? Framton trả lời.

Ông biết không, ba năm trước vào chính ngày này này, chồng cô em và hai người em trai của cô em đã nhảy qua cánh cửa sổ đó để đi săn. Rồi từ đó không thấy họ về nữa. Khi băng qua cánh đồng cỏ để tới nơi săn chim dẽ, họ đã sa vào một bãi lầy nguy hiểm. Mùa Hè năm đó ẩm ướt kinh khủng, những chỗ an toàn mấy năm trước lại bị sụt lở thình lình, không ai ngờ được cả . Nhưng cho tới tận bây giờ, người ta vẫn chưa tìm được thi thể của họ. Và  quả đó là điều hết sức đáng sợ ông à !    

Nói tới đây giọng của cô bé làm như mất đi sự tự tin và trở nên thì thào đứt quãng. Người cô tội nghiệp của em vẫn luôn tin rằng sẽ có một ngày họ quay về với con chó Spaniel màu nâu , con chó cùng bị mất tích năm đó, và họ sẽ lại vào nhà qua lối cửa sổ như họ đã vẫn làm trước đây.

Đó là lý do tại sao mỗi ngày, từ chiều tối cho đến tận khuya , cánh cửa sổ đó vẫn luôn rộng mở. Người cô thân yêu tội nghiệp của em vẫn thường kể đi kể lại cho em nghe ngày ấy họ đã ra đi như thế nào, đó là hình ảnh chồng của cô em với chiếc áo khoác màu trắng trên tay, đó là hình ảnh cậu út Ronnie miệng cứ nghêu ngao : Bertie, cớ sao em buồn ? cốt để trêu bà chị, vì cô của em nói rằng mỗi lần nghe hát như thế bà ấy lại thấy nhức hết cả đầu.

Và ông có biết không, cứ vào những chiều tối hoang lạnh quạnh hiu như thế này, lắm lúc em sởn cả gai ốc mỗi khi tưởng tượng đến cảnh họ sẽ trở về qua cánh cửa sổ để mở đó…

Cô gái ngưng ngang câu chuyện với một thoáng rùng mình. Còn Framton cũng thấy nhẹ cả người khi bà Sappleton đon đả bước vào phòng và luôn miệng xin lỗi vì để khách phải đợi lâu.

Thưa ông, tôi nghĩ là cháu Vera hầu chuyện ông được chứ ? bà nói.

Vâng, cô bé rất thú vị thưa bà , chàng trả lời.

Tôi cũng mong ông đừng quan tâm tới cánh cửa sổ mở đó nhé , bà Sappleton nói nhanh, ông nhà tôi cùng mấy đứa em tôi đi săn cũng sắp về rồi đó. Hôm  nay họ săn chim dẽ ở đầm lầy, rồi thế nào cũng làm bẩn mấy tấm thảm của tôi cho mà xem. Đàn ông mà, đúng không thưa ông ?

Bà chủ nhà cứ tiếp tục nói một cách vô tư vui vẻ về chuyện săn bắn, về việc hiếm hoi chim chóc , về mong ước sẽ có đàn vịt trời trong mùa Đông. Nhưng với chàng Framton tội nghiệp đang ngồi nghe, thì đó quả là một câu chuyện hết sức khủng khiếp. Anh cố lái câu chuyện sang một đề tài khác bớt ghê rợn hơn, nhưng xem ra chẳng ăn thua gì, bà chủ nhà làm như chẳng mấy quan tâm đến người khách, đôi mắt của bà ta chốc chốc cứ nhìn về phía cửa sổ và đồng cỏ bên ngoài. Hẳn đây là một trùng hợp ngẫu nhiên, không may mắn tí nào : Framton đã có cuộc viếng thăm nhà này đúng vào ngày  kỷ niệm tấn thảm kịch !

Bà biết không, các bác sỹ đều nhất trí là tôi cần nghỉ ngơi hoàn toàn, tránh những xúc động mạnh và những hoạt động thể lực nặng. Framton cho bà Sappleton biết như thế, bởi cũng như nhiều người khác , anh tưởng rằng khi những người xa lạ gặp gỡ nhau thì họ thường muốn được chia sẻ chi tiết về tình trạng bệnh tật ốm đau, cùng với nguyên nhân và cách điều trị.

Nhưng về chế độ ăn uống thì họ không hoàn toàn đồng ý với nhau bà ạ. Framton nói tiếp.

Không à ? Bà Sappleton hỏi lại một cách chiếu lệ thay cho một cái ngáp. Rồi  bỗng nhiên mặt mày bà rạng rỡ hẳn ra, tỉnh táo và linh lợi một cách bất ngờ, nhưng rõ ràng là không phải bởi những điều Framton đang nói.

Chao ôi, cuối cùng bọn họ đã về tới rồi !, …về đúng vào buổi trà, mà sao mặt mũi người nào người nấy cũng bùn đất lấm lem thế kia ! Bà kêu lên.

Framton bất giác thấy lạnh cả sống lưng, anh nhìn qua cô gái nhằm tìm kiếm sự cảm thông. Nhưng cô gái này lại đang nhìn trân trối vào cánh cửa sổ để mở với một ánh mắt thảng thốt kinh hoàng.Trong nỗi khiếp sợ không còn biết gọi là gì nữa, Framton xoay người trên ghế và cũng nhìn về hướng đó.Trong bóng hoàng hôn chập choạng tối, anh thấy có ba bóng người đang vượt qua đồng cỏ, hướng về cánh cửa sổ, họ đều mang súng, và trong đó quả thật có một người khoác chiếc choàng trắng trên vai. Có cả một con chó giống Spaniel màu nâu lẽo đẽo theo sau . Họ lặng lẽ tiền gần đến ngôi nhà, và rồi trong cái bóng đêm âm u ấy, có một giọng hát khàn đục trẻ trung vang lên : Bertie, cớ sao em buồn ?

Framton cuống cuồng chụp lấy gậy và nón của mình, rồi tháo chạy,  và anh chỉ kịp lờ mờ thấy cánh cửa ra vào, lối đi rải sỏi và chiếc cổng chính. Một người đi xe đạp trên đường đã phải lủi xe vô hàng rào để tránh một cú va chạm khủng khiếp có thể xảy ra.

Bà ơi, tụi tôi về rồi này , người đàn ông khoác áo choàng trắng nhảy qua cửa sổ vào nhà lên tiếng, bùn đất khá nhiều đấy nhưng cũng khô hết rồi . Thế cái người vừa chạy vụt ra là ai  vậy ?

A là cái nhà ông Nuttel ấy mà, người đâu mà kỳ khôi  …” , bà Sappleton trả lời, ông ấy tới đây toàn là kể lể về bệnh tình của mình không thôi, rồi đột nhiên bỏ chạy như thế đấy, chả thèm từ biệt hay xin lỗi gì sất. Cứ như là thấy ma quỷ hiện hình hay sao ấy ! …

Cháu cho là do ông ấy thấy con chó nhà ta đó thôi ! cô gái điềm nhiên xen vào , ông ấy có kể với cháu rằng, ông ấy có một nỗi sợ kinh hoàng đối với loài chó. Số là, dạo nọ, trong một nghĩa trang bên bờ sông Hằng, ông ấy đã bị cả một bầy chó săn đuổi, đến nỗi phải qua đêm trong một huyệt mộ mới đào, mà trên đầu là cả một lũ cẩu cứ gầm gừ, nhe nanh, sùi bọt mép suốt. Chuyện như thế mà sao không khiếp vía cơ chứ !     

Bịa chuyện gọn hơ như vậy đúng là tay chuyên nghiệp rồi còn gì   !  ( 1 )

Nguyễn Đại Hoàng chuyển ngữ - 6/2012 – hiệu chỉnh lại : 3/2013

( 1 ) Nguyên văn : Romance at short notice was her speciality. Nói theo ngôn ngữ giới trẻ ở Việt Nam bây giờ là :  Thiệt là bó tay với cô này luôn !

Nguyên tác Tiếng Anh :

The Open Window

"My aunt will be down presently, Mr. Nuttel," said a very self-possessed young lady of fifteen; "in the meantime you must try and put up with me."
     Framton Nuttel endeavoured to say the correct something which should duly flatter the niece of the moment without unduly discounting the aunt that was to come. Privately he doubted more than ever whether these formal visits on a succession of total strangers would do much towards helping the nerve cure which he was supposed to be undergoing.
     "I know how it will be," his sister had said when he was preparing to migrate to this rural retreat; "you will bury yourself down there and not speak to a living soul, and your nerves will be worse than ever from moping. I shall just give you letters of introduction to all the people I know there. Some of them, as far as I can remember, were quite nice."
     Framton wondered whether Mrs. Sappleton, the lady to whom he was presenting one of the letters of introduction came into the nice division.
     "Do you know many of the people round here?" asked the niece, when she judged that they had had sufficient silent communion.
     "Hardly a soul," said Framton. "My sister was staying here, at the rectory, you know, some four years ago, and she gave me letters of introduction to some of the people here."
     He made the last statement in a tone of distinct regret.
     "Then you know practically nothing about my aunt?" pursued the self-possessed young lady.
     "Only her name and address," admitted the caller. He was wondering whether Mrs. Sappleton was in the married or widowed state. An undefinable something about the room seemed to suggest masculine habitation.
     "Her great tragedy happened just three years ago," said the child; "that would be since your sister's time."
     "Her tragedy?" asked Framton; somehow in this restful country spot tragedies seemed out of place.
     "You may wonder why we keep that window wide open on an October afternoon," said the niece, indicating a large French window that opened on to a lawn.
     "It is quite warm for the time of the year," said Framton; "but has that window got anything to do with the tragedy?"
     "Out through that window, three years ago to a day, her husband and her two young brothers went off for their day's shooting. They never came back. In crossing the moor to their favourite snipe-shooting ground they were all three engulfed in a treacherous piece of bog. It had been that dreadful wet summer, you know, and places that were safe in other years gave way suddenly without warning. Their bodies were never recovered. That was the dreadful part of it." Here the child's voice lost its self-possessed note and became falteringly human. Poor aunt always thinks that they will come back someday, they and the little brown spaniel that was lost with them, and walk in at that window just as they used to do. That is why the window is kept open every evening till it is quite dusk. Poor dear aunt, she has often told me how they went out, her husband with his white waterproof coat over his arm, and Ronnie, her youngest brother, singing 'Bertie, why do you bound?' as he always did to tease her, because she said it got on her nerves. Do you know, sometimes on still, quiet evenings like this, I almost get a creepy feeling that they will all walk in through that window - "
     She broke off with a little shudder. It was a relief to Framton when the aunt bustled into the room with a whirl of apologies for being late in making her appearance.
     "I hope Vera has been amusing you?" she said.
     "She has been very interesting," said Framton.
     "I hope you don't mind the open window," said Mrs. Sappleton briskly; "my husband and brothers will be home directly from shooting, and they always come in this way. They've been out for snipe in the marshes today, so they'll make a fine mess over my poor carpets. So like you menfolk, isn't it?"
     She rattled on cheerfully about the shooting and the scarcity of birds, and the prospects for duck in the winter. To Framton it was all purely horrible. He made a desperate but only partially successful effort to turn the talk on to a less ghastly topic, he was conscious that his hostess was giving him only a fragment of her attention, and her eyes were constantly straying past him to the open window and the lawn beyond. It was certainly an unfortunate coincidence that he should have paid his visit on this tragic anniversary.
     "The doctors agree in ordering me complete rest, an absence of mental excitement, and avoidance of anything in the nature of violent physical exercise," announced Framton, who laboured under the tolerably widespread delusion that total strangers and chance acquaintances are hungry for the least detail of one's ailments and infirmities, their cause and cure. "On the matter of diet they are not so much in agreement," he continued.
     "No?" said Mrs. Sappleton, in a voice which only replaced a yawn at the last moment. Then she suddenly brightened into alert attention - but not to what Framton was saying.
     "Here they are at last!" she cried. "Just in time for tea, and don't they look as if they were muddy up to the eyes!"
     Framton shivered slightly and turned towards the niece with a look intended to convey sympathetic comprehension. The child was staring out through the open window with a dazed horror in her eyes. In a chill shock of nameless fear Framton swung round in his seat and looked in the same direction.
     In the deepening twilight three figures were walking across the lawn towards the window, they all carried guns under their arms, and one of them was additionally burdened with a white coat hung over his shoulders. A tired brown spaniel kept close at their heels. Noiselessly they neared the house, and then a hoarse young voice chanted out of the dusk: "I said, Bertie, why do you bound?"
     Framton grabbed wildly at his stick and hat; the hall door, the gravel drive, and the front gate were dimly noted stages in his headlong retreat. A cyclist coming along the road had to run into the hedge to avoid imminent collision.
     "Here we are, my dear," said the bearer of the white mackintosh, coming in through the window, "fairly muddy, but most of it's dry. Who was that who bolted out as we came up?"
     "A most extraordinary man, a Mr. Nuttel," said Mrs. Sappleton; "could only talk about his illnesses, and dashed off without a word of goodby or apology when you arrived. One would think he had seen a ghost."
     "I expect it was the spaniel," said the niece calmly; "" he told me he had a horror of dogs. He was once hunted into a cemetery somewhere on the banks of the Ganges by a pack of pariah dogs, and had to spend the night in a newly dug grave with the creatures snarling and grinning and foaming just above him. Enough to make anyone lose their nerve.
     Romance at short notice was her speciality.
SAKI 


Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

Phiếm bình về bài thơ tầm ẩn giả bất ngộ


MÂY NÚI ĐÃ NGÀN NĂM … 

        Bài Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ là một tuyệt tác!
            4 câu và 20 chữ đủ làm cho tên tuổi Giả Đảo đứng vững vài ngàn năm nữa. Thế nhưng cái hay của bài thơ đâu phải vì độ ngắn của nó. Hoặc có thể nó ngắn nhưng không nhỏ! Nó rất lớn!

            Bài thơ có vẻ như một loại vật chất được tinh lọc và nén rất chặt thành ra hình dạng biểu kiến là rất gọn gàng. Và khi được thả vào một môi trường thích hợp nó lại nở bừng và có khuynh hướng tìm về nguyên trạng như nó vốn có. Đó có thể coi như một sự đàn hồi của thơ!

            Thế nhưng không giống với sự đàn hồi trong vật lý – loại đàn hồi có thể đạt tỉ lệ 100% - sự đàn hồi trong thơ thường chỉ là x% thôi! 

            Và sự biến thiên của x tùy thuộc vào môi trường mà bài thơ được thả vào. Tức là tùy thuộc vào độ cảm thụ của mỗi chúng ta. Và độ cảm thụ của mỗi người trong chúng ta luôn khác nhau nên x trong chúng ta sẽ khác nhau!

            Hệ quả là cùng một bài thơ có hàng trăm cách hiểu khác nhau, tức là hằng trăm bản dịch khác nhau. Đó cũng là trường hợp của bài Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ. Hãy xem nguyên tác:

Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn: sư thái dược khứ
Chỉ tại thử sơn trung
Vân thâm bất tri xứ 


            Một bài thơ ngẳn ngủi mà có tới 3 nhân vật (đồng tử, sư và khách), 4 thiên nhiên: (tùng, dược, sơn, vân), 3 tĩnh từ (hạ, trung, thâm) và  đặc biệt có tới 7 động từ (vấn, ngôn, thái, khứ, chỉ, tại, tri)! 7 động từ cho 20 từ! Có bài thơ ngắn tương đương nào có tỉ lệ động từ cao như vậy chưa? Và càng nhiều động từ thì càng động! Phải không?

            Bởi vậy suy nghĩ cho kỹ thì đây đâu chỉ là một bài thơ động, mà hơn thế còn là một bức họa động!
            Và nếu như cho tới nay chưa có bức họa nào có thể “vẽ” hết được những điều mà ngôn ngữ bài thơ hàm chứa, thì cũng chưa có bản dịch nào có thể “chuyển” được những điều mà ý thơ muốn nói! Cái Có của bài thơ không chỉ là cái Có trong nó mà quan trọng hơn là cái Không Có trong nó! Ai cũng có thể diễn được cái có, nhưng mấy ai diễn được cái không?

            Người khách đã tới chốn sơn lâm mong gặp ẩn giả, và đã hỏi chuyện tiểu đồng. Chưa có câu trả lời. Chưa biết khách sẽ ngộ hay bất ngộ sư. Và đến hôm nay, đã hơn ngàn năm trôi qua, cũng chưa có câu trả lời! Người hỏi và người được hỏi vẫn đứng ngàn năm dưới cội tùng! 
         
            Tôi có cảm giác mình cũng là một khách vân du đi tìm cố nhân, tôi muốn hỏi chú tiểu đồng những câu hỏi mà năm xưa chú đã được hỏi. Tôi nghĩ chú vẫn sẽ chỉ vào chốn xa xôi, mây núi chập chùng.

            Tôi nghĩ mình sẽ qua đêm tại chốn sơn lâm cùng cốc đó để đợi một điều có thể nên đợi và không nên đợi. Ngộ hay bất ngộ đều như nhau! Tôi chỉ biết ngàn năm đang trôi. Tôi chỉ biết tôi vẫn là một người khách của thời gian. Và sư vẫn hái thuốc chưa về!

            Bởi vậy một đêm tự nhiên tôi có một “bản vẽ” như thế này: 
Dưới bóng tùng hỏi thăm
Sư hái thuốc xa xăm
Người đi về lối ấy
Mây núi đã ngàn năm …


            Giang Nam tiên sinh đã chính xác khi cho rằng  bản dịch “không tải hết được nội dung nguyên tác vốn hàm súc (hình tượng em bé / quan niệm của em về đường đi, phương hướng nơi núi rừng, nỗi băn khoăn lo ngại của khách nhìn mây dày đặc (vân thâm)”.

            Vâng đúng vậy thưa Giang Nam tiên sinh cùng quý vị, như trên tôi đã nói, một bài thơ quá Động thì dịch phải nói là chuyện vô cùng khó. Bởi chỉ có Tĩnh mới chế được Động, mà trong cuộc đời này, cái Tĩnh cũng chính là cái chúng ta đang tìm kiếm và nuôi dưỡng hàng ngày.

            Tuy nhiên hôm nay tới thăm Giang Nam tiên sinh, tôi tìm thấy một chút Tĩnh cho mình. Đó là bài phiếm bình tôi viết hôm nay.

            Sư, tiểu đồng và vị khách đi về đâu?
            Tôi nghĩ là không ai biết cả, nhưng mà tôi có thể nói như thế này:

Người đi về lối ấy
Mây núi đã ngàn năm …


            Quý vị có thấy tôi chỉ đường có hay hơn anh tiểu đồng năm xưa không?  

Nguyễn Đại Hoàng
Ngày đăng 20/3/2013 

Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2013

Bài đọc trước giao thừa 2013


BÀI ĐỌC TRƯỚC GIAO THỪA 2013

Năm nào giao thừa tôi cũng buồn cả. Tôi thường đi tới khu chợ tàn cuối năm để xem bà con ta làm việc dọn dẹp. Có bà mẹ ốm nhom nặng chưa đầy 36kg nuôi mấy đứa con sinh viên học quyết liệt luôn. Tụi nó cũng ốm nhom nhưng mặt mày cực kỳ tươi sáng. Nhìn cảm động lắm. Có ông bán vé số có hai đứa con đều là học sinh giỏi sáng đi học chỉ được cơm nước mắm. Tụi nó nói thích học Tiếng Anh lắm. Tiếng Anh sẽ giúp tụi con có nhiều cơ hội hơn phải không thầy? Thầy dạy tụi con nghe thầy. Chứ đi học ngoài tháng mấy triệu làm sao đây? Nghe nói lòng buồn hết biết. Đó là ở TP đó, còn những nơi xa xôi thì sao? Tôi đi nhiều nơi rồi, nơi nào cũng có những bà mẹ - ông cha - những đứa con như vậy đó, có điều còn cơ cực hơn nữa... Dù sao thì đất nước mình vẫn đang vào Xuân. Cười và cùng hy vọng cùng đất nước nhé.

Chỉ còn mấy tiếng nữa là năm cũ đi qua và năm mới sẽ đến. Ngoài đường đã yên lặng đi nhiều. Trong không khí buồn buồn của phố phường vắng vẻ, tôi vẫn cảm thấy được niềm hy vọng đang nhen nhúm lên trong những đôi mắt và nụ cười có phần mệt mỏi của người dân. Tôi cười với những người hốt rác đêm cuối năm. Tôi cười với những người dẹp chợ muộn. Họ là những đồng bào của tôi. Có thể cũng là bình thường thôi, nhưng việc họ cười lại với tôi làm tôi kinh ngạc và cảm động vô cùng.

Tôi biết nước mình là một nước nghèo. Thu nhập bình quân hàng tháng chỉ vào khoảng 100 USD. Đó là một mức thu nhập mà người dân ở rất nhiều quốc gia khác có thể kiếm được chỉ trong vài ngày, thậm chí là chưa tới 1 ngày! Số nước nghèo như ta ngay trong khu vực Đông Nam Á thôi cũng đã ngày càng ít đi, dường như VN chỉ còn hơn mỗi Lào và Campuchia.

Tôi cũng biết để đất nước thịnh vượng thì giáo dục chính là chìa khóa. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông… là những ví dụ điển hình nhất về chính sách coi giáo dục là đòn bẫy. Họ đã thành công rực rỡ. Sức mạnh của giáo dục đã chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế và sự tự chủ quốc gia. Việt Nam không có sức mạnh đó.

Nhiều nhà bình luận đã nói rằng: Việt Nam không có những nhà lãnh đạo giáo dục đúng nghĩa. Nền giáo dục Việt Nam không những lạc hậu mà còn lạc hướng. Tôi không dám lạm bàn về những nhận xét đó, tôi chỉ thấy rằng khi đưa một đất nước anh hùng, có tiềm năng rất mạnh, vào nơi nghèo khổ, không tìm được lối ra đã mấy mươi năm rồi, lẽ nào các quan chức giáo dục vẫn có thể mỉm cười với gió Xuân? Vâng có thể họ đang cười với gió Xuân!

Còn những người đồng bào của tôi thì sao. Cám ơn trời, họ vẫn đang cười với gió Xuân. Một nụ cười thanh thản đến lạ kỳ. Nước mắt họ đã tưới cho niềm hy vọng của con em. Tôi nhìn đất nước tôi mỉm cười với gió Xuân. Tôi cũng cho rằng mình đã rất mạnh mẽ vì không … khóc!

NGUYỄN ĐẠI HOÀNG
2/2013 

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

Ngô Tịnh Yên/Whitney Houston & Bài thơ gởi về nơi đâu?




Ngô Tịnh Yên - Whitney Houston &
BÀI THƠ GỞI VỀ NƠI ĐÂU ?

********

Khi Whitney Houston giọng ca vàng của nước Mỹ, con chim sơn ca của thế giới ra đi về thế giới khác, trong một mất mát mơ hồ nhưng trầm trọng, NTY gởi cho tôi bài thơ Loving You (quý vị xem thêm bài Loving You Whitney cũng trong trang này của NTY). Đây không phải, hoặc không chỉ là lời ai điếu cho người nữ ca sỹ tài hoa bạc mệnh, và càng không chỉ là tâm tình của cô ấy gởi lại trần gian qua suy tưởng của NTY. Mà đó là tiếng lòng của chính con người trước sự sống và cái chết, nhưng chính tâm hồn và tình yêu đã làm ranh giới giữa hai thế giới tưởng như đối lập đó không còn biên giới nữa, và như thế tình yêu cũng không còn giới hạn nữa. Sự nhẹ nhàng siêu thực sẽ đến với cõi đời và cũng là cõi chết. NTY đã gởi cho tôi một bài thơ viết bằng tiếng Anh! Ta hãy nghe NTY giải thích lý do: 
  
Chết có phải là hết không? Đã có lần tôi cũng từng suy niệm về đề tài này qua một bài thơ và nghĩ rằng dù không lưu luyến cõi trần gian này lắm đâu, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng sẽ về thăm những người thân yêu qua nhiều hình thức như trong hạt mưa, qua tia nắng dọi… và không hiểu sao cảm xúc này lại bật lên bằng những vần thơ Anh ngữ, chứ không phải bằng tiếng mẹ đẻ của mình, có lẽ ý tình của nó vượt qua bức tường ngôn ngữ chăng?
NTY lừng danh với lục bát, tôi thì thường dùng thể khác lục bát, nhưng bài dịch này tôi sẽ để cho NTY nói qua một thể thơ khác, còn phần cộng hưởng của tôi sẽ là lục bát! Xin giới thiệu cùng quý vị độc giả:

Nguyên tác của Ngô Tịnh Yên:

LOVING YOU

It would be sad, but I am loath to leave you
I must be go, like the waves to the shore

Someday, you will see me on the green leaf
That shows I would return from the dead

May be you will hear me in the singing bird
That means I came back to life with my heart

Otherwise, you will taste me in autumn’s rain
That shows I was bring me to life again

Perhaps you will smell me in scented flowers
That means my loving for you is forever

It’s possibly you’ll feel me in full moon
That shows I was ever bless you soon

Or sometimes, you will meet me in the sunshine
That means my message to say I’m just fine

Be with you somewhere in the air, I love thee
Please don’t be unwilling to part from me.



Bản chuyển ngữ của Hoàng Anh Dũng:




Em về trên lá xanh …

Thật buồn khi phải cách xa anh

Như cơn sóng vỗ bến mong manh  

Em đi một sáng trời u uẩn

Cõi chết em về trên lá xanh


Tiếng hót mơ hồ anh có nghe

Trái tim mơ mộng giữa cơn mê 

Có nghe từng giọt mưa thu đó

Chính bước chân em bước nhẹ về


Anh ơi có thấy một mùi hương

Xa xưa ngày nọ thuở mình thương

Anh ơi có biết hương em đó

Duyên tình vạn thuở vẫn còn vương



Mỗi độ trăng tròn anh nhớ không?

Nhớ em anh nguyện giữa không trung

Gọi nắng cho lòng em an ủi

Để hiểu lòng em chốn mịt mùng …



Anh ơi trong cõi bụi hồng!

Có nghe trong gió tấm lòng người xưa

Em là không khí là cơn mưa

Em ngồi mơ mộng mơ hồ nhớ anh

Em đi về chốn không anh

Em về trên lá xanh xanh cuối trời …


Giờ thì tôi nghĩ quý vị đã biết bài thơ này gởi về nơi đâu rồi phải không thưa quý vị? Vâng đúng vậy, chính là lời Whitney Houston gởi cuộc đời, lời NTY gởi cuộc sống, gởi cho chúng ta, và gởi cho chính NTY. Đó là lời của Tình Yêu Cuộc Sống trong chính đau thương mất mát không tránh khỏi của chính nó. Thông điệp của NTY & Whiney Houston phải chăng là Cái Chết và Sự Sống chỉ là một vòng tuần hoàn? Cái đến và cái đi không phải là vĩnh cửu, mà là ra đi để trở về.

Em đi về chốn không anh
Em về trên lá xanh xanh cuối trời …

HOÀNG ANH DŨNG
tháng 12/2012